Viết cho những điều không thể thấy

“Sao không là gió, là mây để thấy trời bao la…

 Sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông…

Không thể là, và chẳng thể nhìn thấy.

Vẫn thể là, vẫn thể nhìn thấy

Đó là khát vọng

***

Lần đầu tiên đi thăm trường mù Nguyễn Đình Chiểu là lúc tôi 16 tuổi. Tôi đi cùng câu lạc bộ kỹ năng sống và dã ngoại của trường cấp 3 Lê Hồng Phong, mặc đồng phục màu xanh lơ. Trước khi đi, tôi chẳng bao giờ có thể hình dung ra được cuộc sống ở trong đó như thế nào, và những người sống ở đó ra sao.

Ngày đến thăm trường, tôi hơi điệu đà một chút, cột tóc với dây ruban xanh, đeo 2 cái vòng tay bản to màu hồng mới tinh vừa mua trong nhà sách.

Cùng mọi người đi một vòng tham quan trường, tư thế thoải mái hệt như những khách du lịch, chỉ khác là chưa có máy chụp hình cá nhân ngày đó, rồi bất chợt tôi thoáng nghĩ:

Nếu mình sống ở đây, sinh hoạt mỗi ngày sẽ trôi qua như thế nào.

Chỉ cần một giây với ý nghĩ này, tôi bỗng hiểu ra là đã quá trễ,  mình không còn sự vô tư của năm giây trước.

Vận tốc của ánh sáng của suy nghĩ đã làm nổi lên ngọn gió tưởng tượng và gieo mầm trong chốc lát ý tưởng làm tôi run rẩy tinh thần: Nếu mình bị khiếm thị hoàn toàn, mình sẽ “thấy” những gì.

Chữ “nếu…” ấy đã làm tôi trải qua một hành trình dài trong tâm tưởng  với những rụng rời và bi quan khi phải giải đáp những câu hỏi liên quan đến: việc tự sinh hoạt cá nhân, đi đến lớp học, học chữ nổi, ăn uống và làm gì đó mỗi khi có thời gian rảnh.

Nghĩa là, những lúc tôi “bình thường” đọc sách, đọc báo, xem phim, đi mua đồ, chọn quần áo, chải tóc, làm điệu, gặp gỡ làm quen bạn bè, thì nếu tôi “khiếm thị” đang giơ tờ báo trước mặt mà không thấy, ngồi trước tivi mà không thể xem, ngay cả hình dạng vuông tròn tam giác cũng chưa từng biết đến thì làm sao tự chủ tạo những mẫu tóc như trong phim, hay mặc quần áo như trong những tạp chí thời trang.

Tất cả những hoạt động có vẻ như bình thường, chỉ khác là với một màu đen hun hút ở trước mắt. Đen dai dẳng, và đen huỷ diệt.

Thế đó, sự bi quan cùng cực của ý nghĩ này đã làm tôi đã muốn bỏ cuộc, và chạy trốn khỏi sự tưởng tượng về một thực tế phũ phàng. Tôi chỉ muốn chấm dứt cuộc tham quan và đi về nhà.

20 phút sau khi đi tham quan trường để giới thiệu các phòng học và thiết bị, các thầy cô dẫn các anh, chị, bạn, em đang sống ở trường ra để giới thiệu với chúng tôi. Dĩ nhiên, các thầy cô là người nhìn thấy được, còn các anh, chị, bạn, em là những người không thể nhìn thấy gì cả. Như vậy trong cuộc giao lưu, giới thiệu ấy, chỉ có chúng tôi là nhìn thấy “bên làm quen”, còn phía các anh-chị-bạn-em đó, đối với họ, chúng tôi là một màu đen, vô hình, vô tướng, vô sắc, vô cảm. Tôi bỗng thấy những sắc màu mà mình đã chọn cho cuộc gặp này, kiểu tóc mà mình đã cột tóc với ruban, hai cái vòng tay hay mười cái rốt cuộc bây giờ đã xóa nhòa trong một màu đen. Sau khi thủ tục giới thiệu nhau kết thúc là đến phần thành viên của hai bên trao đổi trực tiếp với nhau.  Nhiệm vụ đặt ra ngay từ đầu cho mọi người chúng tôi bỗng trở nên vô cùng hoang mang và khó khăn: làm sao để nói chuyện với họ – những người không thấy chúng tôi và chúng tôi thì không thấy chủ đề gì chung để tiếp cận.

Ví như tôi nói với các bạn mình về chủ đề quần áo, thì mọi người đã phải thấy quần áo, hình dạng, màu sắc nó như thế nào; hay tôi nói về bầu trời, thì mọi người ngẩng đầu lên và thấy ngay trăng sao chi chít. Vậy giờ tôi phải nói về gì để không đụng chạm đến đặc điểm của sự không nhìn thấy, nếu không sẽ gây khó xử cho họ. Tôi chẳng thể biết mình phải làm gì vì tuổi 16 chưa cho phép tôi đủ trải nghiệm để nghĩ đến trường hợp giao tiếp xã hội này.

Mọi người tản ra để làm quen với nhau, còn tôi loay hoay đi tới đi lui trong cảm giác mình đã thành vô hình và vô dụng từ lúc nào. Bỗng thấy một bé gái đang đi chậm chậm về phía hành lang, tôi mừng rỡ chạy đến, đụng vào tay bé và hỏi: “Em có cần chị giúp gì không?” Bé quay lại ngay về phía tôi, nói: “À, em không cần giúp, em đang tìm người nói chuyện, hay quá chị ơi, mình lại góc kia ngồi đi chị”. Rồi bé gái chỉ tay về một hướng, mà nhìn theo hướng đó, tôi thấy có 2 ghế đá dài. Tôi quay phắc lại nhìn vào đôi mắt bé, không biết mình có nhầm sang thầy cô giáo không hay người “thường” không, nhưng  màu trắng đục trong đôi mắt ấy cho tôi biết trước mặt tôi thật sự là một bé gái khiếm thị, tầm 10-12 tuổi.

Bé gái cầm tay tôi, và đụng vào chiếc vòng vừa mua. Chiếc vòng màu hồng mà tôi cực kỳ ưng ý. Bé gái hỏi: “Vòng tay của chị to quá ha?”. Tôi ậm ừ để tránh những từ về hình dạng có thể nhạy cảm. Bé hỏi tiếp: “Màu gì vậy chị?”. Tôi do dự và đành trả lời: “Màu hồng”vì rốt cuộc lại phải dùng từ ngữ về màu sắc mà theo tôi cũng thuộc danh sách từ nhạy cảm trước một người khiếm thị. Bé reo lên: “Em thích màu hồng lắm”.

“Ủa, vậy hả?”, tôi ngạc nhiên và hỏi tiếp: “Em… thấy màu hồng rồi hả?”. Bé vô tư nói: “Dạ không, em tưởng tượng, với lại em đọc truyện nghe tả nhiều về màu hồng lắm: hoa nè, váy đầm nè, nhà nè,… Người ta nói cuộc sống màu hồng nghĩa là cuộc sống đẹp, em thích cuộc sống đẹp nên em thích màu hồng”.

Tối hôm đó, tôi đã tháo chiếc vòng ra tặng bé gái vì đó là một những vật liên quan đến cuộc sống đẹp của bé. Còn tôi lại nhận được một điều không thể nhìn thấy được, đó là cách biết ước mơ và sự yêu đời vượt qua những rào cản “bình thường”. Vì phần tiếp theo của cuộc đối thoại, tôi đã hoàn toàn loại bỏ cái gọi là “danh sách những từ ngữ nhạy cảm”, tôi đã hiểu chính mình tự dựng lên cái gọi là “bình thường” và “không bình thường” để rồi tự lo lắng, tự thương cảm cho người khác trong khi họ hoàn toàn “bình thường” và thậm chí mạnh mẽ hơn mình rất nhiều.

Tôi như theo một cơn say mê đời sau đó, cụ thể là ham thích đọc sách cực độ. Bởi trong sự say mê mơ ước luôn luôn tồn tại một sự bi quan và ngược lại. Bi quan khi nghĩ đến “nếu một ngày mình không thể nhìn thấy ánh sáng mỗi ngày hay đọc được sách”, thì mình phải còn biết mơ ước. Mà khả năng biết mơ ước, không thể có được từ việc sở hữu những hàng hiệu, nữ trang, tiền bạc, vật chất, mà chỉ có thể có được qua những trang sách đã đọc và đã tạo được một thế giới nội tâm phong phú, đầy sắc màu, đầy tình yêu, hy vọng và mơ ước. Đó cũng là sức mạnh của sách mà không thể tìm thấy ở bất kỳ điều gì khác: khả năng làm sống những điều mà ta không thể thấy.

Có một điều trùng hợp là những lần đi thăm trường mù sau đó ở những nơi khác nhau, tôi đều được nghe bài hát “Khát vọng”. Những người không thể thấy, họ có một khả năng sống và truyền cảm hứng sống đó một cách vô cùng mãnh liệt cho những người tưởng-như-bình-thường là chúng ta, qua giọng hát và các giác quan cực kỳ nhạy bén.

Khát vọng được nhìn thấy: bầu trời cùng gió, cùng mây, sông nước với phù sa màu mỡ, ngay cả giông, cả bão tố, đau khổ, nước mắt cũng sẽ đem niềm hạnh phúc vô tận trong khoảng đen mênh mông và có lẽ vĩnh viễn của họ.

Bài hát làm tôi ứa nước mắt vì cảm động. Cảm động trước sự can đảm sống của họ – những người bình thường và phi thường.

Bài hát làm tôi ứa nước mắt cũng là vì tội nghiệp. Tội nghiệp cho sự khuyết tật ước mơ và khát vọng của tôi, của những người vẫn tưởng-mình-là-bình-thường.

Viết cho những điều ta không thể thấy, vì chính những gì không bị giới hạn của vật chất hữu hình có một giá trị lan tỏa mạnh mẽ, và nơi nó tồn tại mãi mãi sẽ không phải trong một kệ tủ sang trọng nào đó mà sẽ là dưới đáy sâu của trái tim – nơi ấp ủ những khát vọng ngay trong những hoàn cảnh sống khắc nghiệt nhất.

NTH

Img00008
Tinh thể đá. Ảnh chụp phóng đại 400 lần.

Bài hát Khát vọng:

http://www.youtube.com/watch?v=Lc7U5BCmyqM

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s