700 năm rửa mãi minh châu bên giếng ngọc

Câu truyện tình huyền thoại Mỵ Châu – Trọng Thủy gắn với những hạt minh châu được tạo ra từ những giọt nước mắt và máu của Mỵ Châu, và sáng lên khi được rửa cùng nước giếng trong thành Cổ Loa nơi Trọng Thủy tự tử theo vợ. Ngoài lớp sáng lấp lánh đó của sự lãng mạn và văn học hóa một câu chuyện tình buồn có thật trong lịch sử, là nỗi đau tận cùng của vua An Dương Vương trước sự phản bội của lòng người và sự bất chấp của trò chơi quyền lực: thông gia giết nhau, chồng đẩy vợ vào chỗ chết, con rể đưa nhà vợ vào cảnh thê lương, biến nơi ăn ở chia sẻ cùng tập thể ngày nào thành chiến trường đẫm máu. Và hơn hết, là nỗi đau mất nước vì chính sự chủ quan của mình.

Truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy xảy ra khoảng năm 207 trước Công nguyên, gắn liền với sự kiện nước Âu Lạc của người Việt mất thành Cổ Loa vào tay Triệu Đà. Đọc sử mà tặc lưỡi một cái, suýt xoa mà rằng thời ấy, con người ngây thơ quá, cha ông chúng ta thuần hậu, chất phát quá, hay là vì An Dương Vương có được nỏ thần dễ dàng nên sinh ra chủ quan, tạo ra thói quen nhàn nhã mà mất cảnh giác. Câu chuyện như vậy hẳn không thể xảy ra với những người lão luyện, trải đời.

Ấy vậy mà 700 năm sau, câu chuyện giống hệt như vậy lại xảy ra với cùng diễn biến và kết cục. Định mệnh phải chăng muốn thử thách lòng hậu thế hiểu rõ bài học lịch sử đến mức độ nào?  Hay Triệu Việt Vương không đọc sử Việt, hay lòng tự tin đã khiến ông quá chủ quan vào nhân tâm thế thái?

Triệu Việt Vương trước khi làm Vương, vốn là tướng của Lý Nam Đế – vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam. Khi ấy, ông tên là Triệu Quang Phục, cùng với cha một lòng theo Lý Nam Đế đánh đuổi quân Lương. Trong một trận đánh, Lý Nam Đế thua trận nên lui về động Khuất Lạo để tính chiến lược dài lâu, còn ông trấn ở đầm Dạ Trạch để tiếp tục tấn công quân Lương lúc ấy đang dưới sự chỉ huy của Trần Bá Tiên. Chú ý một chút thông tin thì ta biết Trần Bá Tiên cũng không phải nhân vật bình thường, mà là một tướng năng nổ, luôn tiên phong và nhiều mưu lược của vua Lương. Trong lúc Triệu Quang Phục và Trần Bá Tiên đang tạo thế cờ đánh nhau thì Trần Bá Tiên được lệnh của vua Lương rút quân về nước vì có nội loạn; khi Trần Bá Tiên về nước thì 7 năm sau, ông đã phế luôn vua Lương, tự mình lên ngôi xưng là Trần Vũ Đế, cùng với Bắc Tề, Bắc Chu chia 3 thiên hạ để cai trị.

Trở lại với Triệu Quang Phục, trước thời điểm Trần Bá Tiên rút quân về nước, thì nhận được tin Lý Nam Đế mất. Sau đó, Trần Bá Tiên rút về nước, thì Triệu Quang Phục dễ dàng đánh thắng quân Lương còn ở lại . Năm 550, Triệu Quang Phục lên ngôi vua và xưng là Triệu Việt Vương. Con đường mới mở ra, ai biết đi lâu  và xa đến chừng nào? Lúc này đây, câu chuyện số phận của Triệu Việt Vương mới bắt đầu.

Cuộc đời không đơn giản vì bên gia đình của Lý Nam Đế vẫn còn người thân. Anh của Lý Nam Đế làm chủ một cõi gọi là nước Dã Năng (theo chú thích của “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, nay không rõ là ở đâu). Sau khi mất vì không có con, nên một người cháu là Lý Phật Tử lên nối ngôi chủ nước Dã Năng. Ngay sau đó, Lý Phật Tử đem quân đi đánh Triệu Việt Vương. Đánh năm lần vẫn chưa phân thắng bại. Triệu Việt Vương lại thấy Lý Phật Tử là người nhà của Lý Nam Đế là chủ soái trước của mình, thế nên xin giảng hòa và chia đất để cùng hưởng thái bình cùng thiên hạ.

Lý Phật Tử đồng ý và hỏi cưới con gái Cảo Nương của Triệu Việt Vương cho con trai của mình là Nhã Lang. Triệu Việt Vương bằng lòng, và vì yêu quý con gái nên cũng chấp nhận cho Nhã Lang ở rể. Năm đó là năm 557, lễ thành hôn của Cảo Nương và Nhã Lang.

14 năm sau, vào năm 571, Lý Phật Tử đem quân đánh úp nhà thông gia. Triệu Việt Vương trở tay không kịp, cùng con gái chạy đi trốn nhưng không thoát, chạy đến cửa biển Đại Nha, cùng đường nên nhảy xuống tự tử.

Trong sách “Đại Nam Quốc sử diễn ca” viết thơ bằng chữ Nôm khoảng năm 1870 dưới đời vua Tự Đức, triều Nguyễn, đã viết rất thống thiết về quyết định sai lầm của Triệu Việt Vương:

Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,

Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.

Mảnh gương vãng sự còn gần,

Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?

Soi gương lịch sử nhưng chỉ thấy gương mặt mình nên mới xảy ra việc gương vẫn còn mà người đã mất mạng và lại thêm mất nước.

Sử sách không thấy nói đến Nhã Lang, 14 năm tình nghĩa vợ chồng với Cảo Nương, sống thế nào trong quãng đời còn lại?

700 năm cùng một câu chuyện, cùng một lỗi lầm. Hẳn Triệu Việt Vương không bao giờ tin mình ở vào thế của An Dương Vương ngày nào. Ông không vượt qua được bài tập thử thách của số phận. Cảo Nương lại càng không. Chuyện thật khó tin đã xảy ra như thế, thì câu chuyện này có lại lặp lại lần nữa trong lịch sử (có thể là vì chưa tìm ra đấy thôi) thì cũng không còn gì là lạ. Câu chuyện tình, tưởng vậy, mà chứa đựng tính thử thách mức độ hiểu bài học lịch sử thật là lớn!

 

Quang Nguyên

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s