Quân vương và Hoàng đế

Đều là danh hiệu dành cho người sở hữu ngai vàng và quyền lực cao nhất của một lãnh thổ, Vua (hay vương trong tiếng Hán-Việt) và Hoàng đế là hai khái niệm có nhiều ẩn ý ẩn chứa nhiều câu chuyện thú vị Đông-Tây, Việt Nam.

Chỉ quay quanh hai danh hiệu này để không sa vào mê cung của các bối cảnh lịch sử, thì sự xuất hiện của « Vua » và « Hoàng đế » ở phương Đông sớm hơn rất nhiều so với phương Tây.

Ở châu Âu, vào ngày 16 tháng 1 năm 27 trước Công nguyên, Octave lên ngôi kế thừa vị trí của César và lấy danh hiệu hoàng đế Auguste (Auguste là cách viết trong tiếng Pháp, Augustus là cách viết trong tiếng Anh), tạo ra đế quốc La Mã từ năm 27 trước Công nguyên đến năm 476 sau Công nguyên, tương đương 503 năm. Tính từ thời điểm lên ngôi của Octave hay còn gọi là hoàng đế Auguste, thì lịch sử chính trị và văn hóa phương Tây mới lần đầu tiên có danh hiệu « hoàng đế » – Imperator trong tiếng La Mã thời đó, và thành Empereur trong tiếng Pháp hiện nay.

Lấy dấu mốc năm ấy – năm 27 trước Công nguyên với sự xuất hiện của hoàng đế đầu tiên ở phương Tây, thì ở phương Đông, Tần Thủy Hoàng đã làm hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc cách đó gần 200 năm, trải qua « vật đổi sao dời » đã tan xương nát thịt, triều đại Tần sụp đổ, lại qua các trận binh biến, nhà Hán được thành lập và Lưu Bang, hay Hán Cao Tổ, là hoàng đế thứ hai của Trung Quốc cách dấu mốc ấy cũng đã 180 năm (nhà Tần chỉ kéo dài có 15 năm).

Trước khi có danh hiệu Hoàng đế thì người đứng đầu gọi là gì ? Và nguồn gốc hình thành từ « hoàng đế » ?

Chắc chắn ai cũng đã biết, nếu không phải hoàng đế thì là vương, là vua. Ở Trung Quốc và Việt Nam, vua đã là cao nhất từ vua Nghêu, vua Thuấn ở Trung Quốc, đến 18 đời vua Hùng huyền thoại, rồi An Dương Vương, rồi hai vua bà Hai Bà Trưng,… Tuyệt đối mọi người không nghĩ và hẳn cũng không dám nghĩ đến việc có tồn tại danh xưng nào cao hơn cả Vua nữa ngoại trừ Trời. Vua là hình ảnh và quyền lực cao nhất, ngay cả Thái thượng hoàng và Thái hậu là cha mẹ của vua, nhưng khi đã nhường ngôi thì chỉ còn tình thân và một hình ảnh quá khứ, không còn quyền lực chính trị trước quần thần và muôn dân.

Ở phương Tây, trước Octave, người La Mã theo nền Cộng hòa La Mã, nên họ chỉ dùng chức vụ chính trị của người lãnh đạo để gọi. Như, César làm chức quan Độc tài, được hiểu là Thống lĩnh tối cao và nắm tất cả quyền lực một cách tuyệt đối. Sau khi ông bị ám sát, Octave nắm quyền, chế độ Cộng hòa La Mã sụp đổ và tạo ra chế độ quân chủ mà trong đó Octave thành hoàng đế Auguste. Nhưng nghĩa gốc Latin của từ Imperator không giống lắm với nghĩa « hoàng đế » hiện đại mà ai ngày nay cũng hiểu là một vị trí quyền lực chính trị cao nhất của thể chế quân chủ. Imperator vốn là một từ đã có sẵn từ nền Cộng hòa La Mã trước đó, cũng là một danh hiệu cũng như danh hiệu chức quan Độc tài của César, chỉ khác đây là danh hiệu cao quý nhất dành cho những vị tướng cao cấp, thắng trận. Như vậy, khi nghe đến từ Imperator thì nhất định có liên quan với quân đội. Octave xuất thân từ đó, nên ông chọn từ này cho mình mà không ngờ rằng từ này lại trở thành “mốt” lan rộng toàn châu Âu sau này.

Đế quốc La Mã hình thành với tham vọng mở rộng lãnh thổ, điều đó nghĩa là các cuộc chinh chiến lấy đất diễn ra ở mọi hang cùng ngỏ hẽm, và các bộ tộc, lãnh chúa của các vùng đất khác không thoát khỏi cơn can qua đó. Những vùng đất bị xâm chiếm trở thành một bộ phận của đế quốc La Mã, được đặt dưới sự cai trị của những Rex hay “nhà vua”, theo nguyên tắc thông thường là cha truyền con nối dưới mỗi triều đại. Như vậy, ý nghĩa của « vua » và « hoàng đế » trong định nghĩa lịch sử của văn minh phương Tây khá rõ ràng : vua là người quản lý, cai trị cao nhất đối với dân tộc của mình, trong lãnh thổ của mình và có định chế hành chính về việc kế thừa khá rõ ràng nên « roi » (vua) là đại diện của « royaume » (vương quốc), của « nation » (quốc gia) ; còn hoàng đế là những người tối cao về quân đội, vì vậy nắm quyền hành tuyệt đối, là “vua của vua” và sở hữu nhiều vương quốc, lãnh thổ, dân tộc khác nhau. Cấp bậc của hoàng đế và vua đối với phương Tây được xác định bằng tính đa dạng trong tài sản quốc gia mà mình sở hữu.

Trở lại với phương Đông, trước Tần Thủy Hoàng, dù có Xuân Thu-Chiến Quốc, nước này thôn tính nước kia liên miên như thế suốt 500 năm, nhưng vương, vua vẫn là danh hiệu cao nhất. Đến khi Tần Vương Doanh Chính – vua nước Tần là Doanh Chính – bước lên ngôi, ông mới phất tay áo mà tạo ra từ « hoàng đế » theo một cách thường làm của người xưa : tạo ra 1 từ bằng cách rút ý từ những cụm thành ngữ. Theo đó « hoàng » lấy từ cách gọi « tam hoàng » nói về 3 vị thần đầu tiên khai hóa cho con người (Thiên-Địa Nhân, hay có sách cũng có thuyết 3 vị này là Phục Hi-Nữ Oa-Thần Nông), và « đế » là từ cụm từ « ngũ đế » nói về 5 vị vua huyền thoại của Trung Quốc. Khi tạo ra từ « hoàng đế », Tần Vương muốn nói mình không còn là Vương nữa, không còn « cá mè một lứa » với các vị vương thân quý tộc khác, mà mình đã sánh ngang với những người đầu tiên thần thánh, huyền thoại, tạo ra tất cả lãnh thổ mà mình đang sở hữu và mình cũng sẽ là người tạo ra lãnh thổ đó.

Như vậy, xét về ý nghĩa của từ « hoàng đế » của phương Đông và phương Tây, dù cách xa nửa vòng trái đất, cách nhau 200 năm trong dấu mốc xuất hiện, và không có trao đổi, thư từ vì con đường tơ lụa Đông-Tây chỉ bắt đầu hình thành sớm nhất là từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, thì cách hiểu vẫn giống nhau đến kỳ lạ. Đây không phải chỉ là sự trùng hợp đầu tiên của lịch sử, trong hệ thống tư tưởng Đông-Tây cũng có những luồng « thần giao cách cảm » thật thú vị, kỳ lạ có thể « trà dư tửu hậu ».

Về từ « vua » vốn được hiểu thông thường là người đại diện cho một dân tộc, một lãnh thổ, cũng có những ngoại lệ như Guillaume le Conquérant là Công tước Pháp, người vùng Normandie, bỗng đánh một trận đến nước Anh năm 1066 và trở thành vua nước Anh cho đến khi qua đời. “Vua” Pháp xuất hiện hơi trễ, mãi đến năm 481 sau Công nguyên mới có vua đầu tiên của xứ Francs Saliens, đó là vua Clovis, sở dĩ như vậy là vì lúc đó Đế quốc La Mã vừa tan rã không được bao lâu. Và một vua Pháp có trải nghiệm làm “hoàng đế” của châu Âu khá thú vị là vào ngày Noel năm 800, vua xứ Pháp là Charlemagne đã được Giáo hoàng Léon III đưa lên làm hoàng đế châu Âu, xem như không còn thuộc về chỉ của người Pháp . Sau đợt đó các vua xứ Pháp lại là vua xứ Pháp, cho đến khi Napoléon lên nắm quyền vào ngày 18 tháng 5 năm 1804, trở thành hoàng đế đầu tiên của người Pháp, và tạo ra đế quốc Pháp với đầy đủ ý nghĩa của từ “hoàng đế” – xuất thân từ quân đội – và đế quốc – sở hữu đất của những quốc gia khác.

Trở về “nhà, ở Việt Nam ta thì thế nào? Việt Nam ta có trường hợp vừa là « vua » vừa là « hoàng đế », điểm qua vài dấu mốc:

Năm 544, Lý Bí đánh thắng quân Lương của Trung Quốc, và lên ngôi xưng là Lý Nam Đế – hoàng đế nước Nam mang họ Lý – đặt tên nước là Vạn Xuân. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có hoàng đế, và lần đầu tiên Trung Quốc thấy có người xưng đế cùng làm « hai mặt trời » với mình. Đáng tiếc là 4 năm sau, Lý Nam Đế bị bệnh mất, tướng của ông là Triệu Quang Phục kế thừa và xưng là Triệu Việt Vương – vua nước Việt họ Triệu. Từ Đế thành Vương, phải chăng vẫn là do 500 năm Bắc thuộc để lại !?

Đến năm 713, lại có Mai Thúc Loan đã nổi dậy. Lúc đó bên Trung Quốc là năm thứ nhất trị vì của vua Đường Huyền Tông, hay còn gọi là Đường Minh Hoàng. Mai Thúc Loan đã đánh quân Đường chạy về nước, lên ngôi xưng là Hắc Đế, mà sử sách gọi là Mai Hắc Đế, giữ nước được 10 năm. Đến đời con của ông là Mai Thiếu Đế, thì quân đội nhà Đường tấn công và tiếp tục đô hộ.

Năm 938, với chiến thắng Bạch Đằng Giang, Ngô Quyền đã lấy lại tự chủ cho đất nước rồi xảy ra loạn 12 sứ quân. Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn nội chiến, ông lên ngôi lập ra nhà Đinh và lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng. Từ đó trở đi, hầu như các triều đại sau đều xưng hoàng đế một cách tinh tế và “ngầm”.

Nếu không để ý chu đáo có lẽ sẽ không thấy dụng ý, ẩn ý này của các vua Việt Nam bởi trong các tấu chương ngoại giao, nhất là với Trung Quốc, đều ghi « vua nước Việt » cùng niên hiệu chứ không là « hoàng đế nước Việt », nhất là các tài liệu của Trung Quốc đều viết về « An Nam quốc vương » vì vẫn nghĩ Việt Nam thuộc lãnh thổ của họ và một nước thì không thể có hai hoàng đế.

Tuy rằng trong danh hiệu thường dùng của sử sách thông dụng không có chữ « hoàng » lẫn « đế » nhưng rất nhiều điều cho thấy rằng các vị vua Việt Nam thật sự là những « hoàng đế » và họ thể hiện điều đó theo cách của mình, như : các tước vị quan trọng cho các quan đều có chữ « vương », như Hưng Đạo Đại Vương, Chiêu Văn Vương; trong ngôn ngữ cung đình, để thể hiện cấp bậc hoàng đế, sẽ có những cụm từ được dùng là « hoàng thượng », « tiên đế », « tiên hoàng ».… và quan trọng hơn hết là thụy hiệu của tất cả các vua đều có chữ “hoàng đế”. Thụy hiệu là tên gọi đầy đủ và nói về công đức của một vị vua sau khi mất, đặc biệt là không phải vua nào cũng có thụy hiệu vì vua mất nước thì không có được thụy hiệu ; đây là những gì lưu lại cùng hậu thế và những vị vua Việt Nam đều ghi rõ từ « hoàng đế » trong thụy hiệu của mình.

Nói về tính công khai thì cho đến nay, duy nhất 3 vị vua Việt Nam ngang nhiên xưng và dùng từ « hoàng đế » lúc vẫn đương nhiệm và trong những giao tiếp với Trung Quốc là : Lý Bí – Lý Nam Đế, Mai Thúc Loan – Mai Hắc Đế, và Nguyễn Huệ – Quang Trung Hoàng đế. Riêng Quang Trung Hoàng đế, ông lên xưng hoàng đế ngay trước khi tiến quân đánh 29 vạn quân Thanh, và sau đó được sự chính thức công nhận rất nhanh từ nhà Thanh, ông cũng ngang nhiên bỏ tiếng Hán mà đưa chữ Nôm thành ngôn ngữ chính thức của đất nước, cùng bao nhiêu mộng tưởng đẹp đẽ khác, ông đã ra đi đột ngột trong những giấc mơ của mình trước sự vỡ mộng của bao người đời, hậu nhân…

Nước Nhật cũng có « hoàng đế » theo cách gọi « thiên hoàng » từ thế kỷ thứ 7, điều này có một ý nghĩa không gì khác hơn là nhấn mạnh sự độc lập và ngang hàng của Nhật bản trước Trung Quốc, trước thiên triều, thiên tử – hoàng đế Trung Quốc.

các mốc so sánh - Hoàng đế

© TH

*****

Quân vương và Hoàng đế – mộng tưởng và tham vọng, những giấc mơ đẹp như dãy tượng thần trong đền Appolon Palatin, oai hùng như những chiến thắng làm nức lòng hậu thế hàng trăm năm sau, mà cũng loan đầy máu và phủ mờ con đường đi bằng những linh hồn vừa rời khỏi xác.

Hiện nay thế giới còn 44 nước theo hình thức nhà nước quân chủ, trong đó Khối thịnh vượng chung của nữ hoàng Anh là rộng lớn nhất và trong đó cũng bao gồm 15 vị vua, nữ hoàng khác.

Tuy nhiên, có vẻ tình hình thế giới này đang và sẽ đi đến cực hạn của chủ nghĩa hình thức. Ngay cả tên gọi « quân chủ », vua, nữ hoàng,… cũng đều là một cách gọi, là một cái tên, một hình thức với nội dung, bản chất chưa hẳn đã còn phù hợp với các định nghĩa kinh điển, quen thuộc xưa nay. Vì hơn bao giờ hết, nhiều trong những nước vẫn còn vua và hoàng hậu, nữ hoàng hiện lại được đánh giá là dân chủ và thành một kiểu mẫu của cuộc sống lý tưởng của các nước khác, ví dụ : Đan Mạch, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Bỉ, Nhật bản… Một số nước khác với chế độ quân chủ tập trung tuyệt đối như Ả rập, Oman, Sudan,… lại vẫn còn là một bí ẩn, trong đó Bhutan dù trình độ phát triển công nghệ không cao nhưng người dân lại có chỉ số hạnh phúc nhất thế giới, còn Swaziland lại là đang đối mặt với rất nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng. Như vậy, chế độ quân chủ không phải là yếu tố duy nhất để nói lên được tính tốt-xấu, phát triển của một xã hội. Dù một ngày không còn vua và nữ hoàng trên thế giới, giấc mộng làm vua và hoàng đế, ai nói, sẽ không còn tồn tại và tìm cách tạo dựng thế giới ấy…. Quan trọng là câu chuyện ấy là cổ tích công chúa, hoàng tử cho người ta say mê hy vọng, hay là những chuỗi “thâm cung bí sử” của những bàn chân bị bó tật nguyền không bao giờ đi xa…

Vài dòng phiếm luận về Quân vương và Hoàng đế,… Một tuần trà cũng vừa xong.

Quang Nguyên

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s