Ghi chú sơ lược quyển “Đại Nam Hóa Tệ Đồ Lục” về tiền cổ Việt Nam

Bìa quyển “Đại Nam hóa tệ đồ lục” vừa viết bằng chữ quốc ngữ và Hán ngữ vừa có tên tiếng Pháp là “Annam études numismatiques“(Khảo cứu về tiền tệ ở xứ An Nam). Quyển sách này của tác giả Albert Schroeder, xuất bản năm 1905 tại Paris, với hơn 600 trang sách bằng tiếng Pháp với các cụm từ gốc bằng tiếng Việt và cả tiếng Hán.

Đại Nam Hóa Tệ Đồ Lục

Theo lời nói đầu, quyển sách khảo cứu này đã được thực hiện trong khoảng 20 năm với cảm tình dành cho đất nước An Nam xinh đẹp. Năm 1900, quyển khảo cứu này cùng với bộ sưu tập tiền kèm theo đã được trưng bày tại Triển lãm Toàn cầu (Hội chợ Đấu xảo) tại Paris và đoạt huy chương bạc. Tuy nhiên, bối cảnh lúc bấy giờ không cho phép xuất bản khảo cứu này thành sách trong sự tiếc nuối của tác giả, cho đến 5 năm sau, năm 1905, quyển “Đại Nam hóa tệ đồ lục” này mới được chính thức phát hành tại Paris.

Tác giả Albert Schroeder thể hiện sự say mê tìm tòi của mình trong quyển sách bằng vốn kiến thức phong phú, khả năng dùng tiếng Việt và Hán ngữ như những từ gốc cho các phiên dịch qua tiếng Pháp của mình.

Bước đầu đọc qua quyển sách sơ lược mà đã thấy nhiều bất ngờ thú vị không những về cách trình bày nội dung, mà hơn hết là một số chi tiết mang tính lịch sử có thể gây tranh cãi vì khác với nhiều giả thuyết, quan điểm truyền thống xưa nay (Những chi tiết này đúng hay sai là một việc khác, nhưng việc có những cách giải thích khác nhau giúp thêm đa dạng về các luận đề lịch sử). 

Về cách trình bày nội dung, quyển sách dày hơn 600 trang không chỉ nói về tiền cổ Việt Nam mà như một quyển bách khoa thư về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Tác giả trình bày rõ ràng và có hệ thống về các dấu mốc lịch sử Việt Nam, niên đại các đời vua, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, các địa điểm và kiến trúc nổi bật của Việt Nam mà tác giả đã thấy vào đầu thế kỷ 20 và tìm hiểu thêm,… Đặc biệt hơn cả trong nội dung là sách dành đến khoảng gần 1/3 độ dày để giới thiệu về các biểu tượng văn hóa Việt Nam và cách giải mã chúng: từ các biểu tượng Tam giáo, đến các họa tiết kiến trúc, Kinh Dịch, các nhạc cụ, Cửu đỉnh, từ tôn giáo, thói quen dân gian đến hệ thống quan chức trong triều đình. 

Một quyển sách nghiên cứu hơn 600 trang với khối lượng thông tin đa dạng thì việc đọc kỹ chỉ trong vòng vài ngày là điều không thể, tôi chỉ có thể vừa đọc sơ lược các trang để nắm bố cục chung, vừa đọc kỹ một số trang và ghi chú lại ngay lập tức một vài điểm cần lưu ý, kiểm chứng lại theo góc nhìn cá nhân.

Trước mắt là một số điểm ghi chú lại, không thuộc chủ đề về tiền mà lại là về nguồn gốc một số tên riêng, địa danh, thông tin lịch sử Việt Nam có trong sách – điều mà có thể nhiều người trong giới chuyên môn khảo cứu đã biết, nhưng tôi vẫn hy vọng đây sẽ là thêm một nguồn tư liệu hữu ích:

  • Ngay phần Dẫn nhập giới thiệu chung về xứ An Nam, tác giả đã viết về sông Mékong. Phần sông Mékong chảy qua Việt Nam được người Việt Nam gọi tiếng Việt là  Khủng giang, hay Khọng giang, nghĩa là con sông chảy nhanh. Còn cách gọi Cửu Long Giang là của Hán ngữ. (p.1)
    .
  • Về nguồn gốc cách gọi Nam kỳ là Cochinchine (p.1-2), tác giả đã trích nguyên văn một thông tin từ quyển sách Noticias Summarias das perseguicoes de missa de Cochinchina được in tại Lisbonne năm 1700 để giải thích nguồn gốc tên gọi này như sau: “Les Portugais, entendant appeler la Cour de ce royaume Kẻ Chợ, et remarquant que les naturels avaient une grande ressemblance avec les Chinois, firent, avec quelques corruptions, de Kẻ Chợ et China le mot et le nom Cochinchina” (tạm dịch: “Người Bồ Đào Nha, khi nghe cách gọi triều đình của xứ sở này là Kẻ Chợ, và khi nhận thấy rằng người bản xứ rất giống với người Trung Quốc, liền đã, với một chút hòa trộn, nối từ Kẻ Chợ và từ China thành một cái tên và cách gọi Cochinchina“).
    Bên cạnh đó, tác giả cũng nhắc lại giả thuyết có trong một quyển sách có từ giữa thế kỷ 16 tên là l’Asia portugesa có viết rằng người bản xứ nơi đây tự gọi mình là Cacho, có thể là sự biến âm từ Kiao tcheou (tên của dòng sông), rồi biến âm lần nữa thành Cochin, cộng thêm chữ Chine hay Chin mà người Ấn dùng để gọi vùng này của xứ An Nam.
    Và một giả thuyết nữa là từ quyển Le pays d’Annam (Xứ sở An Nam) in năm 1878 tại Paris về tên gọi này: đó là do người châu Âu đọc theo âm của cụm Hán ngữ “Kòu tchen tch’êng”, có nghĩa là Cổ Champa, để thành Cochinchine.
    .
  • Ở trang 3, tác giả nhấn một thông tin rằng: Tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc đã từng thuộc xứ An Nam vào năm 207 TCN, cũng như một phần của tỉnh Quảng Tây cũng là của Đại Việt vào năm 1405. Điều này thể hiện việc tìm hiểu của tác giả với lịch sử Việt Nam.
    .
  • Về tên gọi Giao Chỉ: Tác giả viết rằng tên gọi Giao Chỉ của Trung hoa và Giao Chỉ của người Việt có ý nghĩa khác hẳn nhau. Khi dùng với chữ Chỉ mang bộ túc , cả  cụm Giao Chỉ có nghĩa là ngón chân cái giao với ngón khác, trở thành một cách gọi – một tên gọi mà người Trung Hoa dành cho người Việt. Tuy nhiên, người Việt trong các bộ sử ký lại viết Giao Chỉ với chữ Chỉ nghĩa là nền đất, như vậy cả cụm Giao Chỉ có ý nghĩa chỉ về nơi các vùng đất giao nhau. Chữ Chỉ là một từ đồng âm khác nghĩa cần lưu ý trong cách gọi của người Trung Quốc và của người Việt bản xứ.
    .
  • Các bảng niên đại của lịch sử Việt Nam lấy từ các quyển Sử ký của Việt Nam như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Gia Định thành thông chí, Đại Nam hiệp ký lịch,… có đối chiếu với niên đại Nhật Bản và Trung Quốc từ tài liệu San bổ Hòa Hán Niên Khế của O saka in năm 1860. Dựa vào đó, tác giả tạo ra các bảng niên đại các triều đại theo thứ tự: triều đại vua chính thức, vua chiếm ngôi, các chúa/tướng tự nhận như vua. Các triều vua được chia rất rõ ràng với niên hiệu  chữ quốc ngữ lẫn Hán ngữ.
  • Đại Nam Hóa Tệ Đồ Lục - niên đại
    Từ đó, các bảng niên đại tiền tệ cũng theo cách chia như vậy, để ta có thể thấy những đặc điểm, sự tiến hóa của các đơn vị tiền tệ, chất liệu, biểu tượng,… qua mỗi thời kỳ, từ sơ khai cho đến hệ thống hóa, trong sự đối chiếu với niên đại tiền tệ ở Trung Quốc và Nhật Bản.
  • Thông tin về việc giao thương đầu tiên của xứ An Nam và Trung Quốc được viết trong sách là sự kiện năm 183 TCN, Lữ Hậu đã cấm việc buôn bán dụng cụ sắt ở biên giới với nước Nam Việt.
    Một số cột mốc khác: Năm 111 TCN, người Việt có đơn vị đo lường cho chất lỏng, gọi là chung. Và bắt đầu năm 984 có đồng tiền đúc mang tên Thiên Phúc ra đời. Năm 1360 là đồng tiền Đại Trị Thông Bảo. Năm 1396 xuất hiện tiền giấy.
    .
  • Thông tin khác hấp dẫn trong sách là về các biểu tượng trên tiền các thời kỳ, chức năng của một số đồng tiền (ví dụ như bùa bảo hộ,..), thông tin về các mỏ, quặng của Việt Nam và cách khai thác, cũng như hệ thống đo lường, quy đổi của các loại tiền và các chất liệu khác nhau (đồng, sắt, chì,…) trong cuộc sống hàng ngày.

.
Tạm thời tôi mới chỉ ghi chú được như thế. Quyển sách thật sự cần thời gian để đọc kỹ vì nhiều thông tin quý, hay, là nguồn tư liệu thêm cho việc đối chiếu, tìm kiếm các tham khảo lịch sử, xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20.
Rất tiếc là quyển sách gốc có 2 phần: phần nội dung khảo cứu hơn 600 trang này, và phần minh họa tiền xu nhưng tôi không có phần hình minh họa này. Dù các miêu tả chi tiết hơn 600 loại tiền xu đều được viết rõ trong phần khảo cứu (từ trang 415 trở đi), nhưng nếu có thêm phần minh họa sẽ càng đầy đủ hơn. 

Đại Nam Hóa Tệ Đồ Lục - miêu tả xu
Hy vọng nguồn thông tin trong sách có thể được dịch sang tiếng Việt và phát hành ở Việt Nam, đây có thể là một trong những quyển sách hiếm hoi về đề tài tiền cổ tại Việt Nam do một học giả nghiên cứu nước ngoài thực hiện công phu, tư duy khoa học cùng sự am hiểu văn hóa tinh tường.

NTH

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s