Đọc “Một lối đi riêng vào cõi thơ” của Vĩnh Đào

Hẳn không phải ai cũng nghĩ rằng, đọc thơ sẽ làm cho cảm xúc và khả năng tư duy trừu tượng, vốn từ ngữ phát triển mạnh như thế nào. Dĩ nhiên, đó là khi ta đọc được những bài thơ hay, cực cô đọng và nén các tầng ý nghĩa chỉ trong 1 hay vài từ.

Nếu như ta có thể tóm tắt một quyển truyện hàng trăm trang trong vài dòng ngắn gọn, thì với một bài thơ hay gồm 5-7 câu, ta lại không có cách nào tóm tắt được trong vài câu, ít nhất là không thể ngắn hơn số dòng và số chữ của bài thơ ấy.

Mình thường so sánh những bài thơ hay, kinh điển, ví dụ thơ cổ, thơ Đường, như những vò rượu quý, càng lâu năm càng nồng đượm, mỗi từ – mỗi âm có dư vị đậm đặc của cảm xúc nén chặt; khi ta đọc vào, ngâm nga đủ làm ta chếnh choáng, bâng khuâng, nửa vui sướng thưởng thức nửa đau lòng dằn vặt, hồi sinh những cảm nhận và ký ức dù cho đoạn ký ức ấy đến từ bài thơ của một người khác.

Từ quyển sách trước là “Paris – Tùy bút mùa hè” mà mình mua đọc dù không biết tác giả là ai, một ngày, mình đã gặp được trực tiếp tác giả. Nói về thơ, thế là ông đưa mình quyển sách vừa viết xong: bình giảng 27 bài thơ hay.

Mình cầm quyển sách mà không có ý nghĩ gì, đến khi đọc vào thì thán phục quá, làm sao để có văn phong bình giảng vừa chu đáo, cặn kẽ, vừa dễ hiểu (bất kỳ ai cũng có thể đọc được), vừa am hiểu văn học lẫn cuộc đời, tâm lý như vậy.

Nếu mỗi ngày đọc 1 bài giảng giải, chưa đến 1 tháng, tâm hồn yêu thơ của ta sẽ được nâng tầm thành một người yêu thơ chỉn chu, biết cách thưởng thức từ thơ Việt, thơ Trung Hoa, thơ Pháp, thơ Mỹ,… từ thơ cổ đến hiện đại, phá cách, sáng tạo.

Công việc bình giảng thơ, văn hay âm nhạc, luôn cần sự tập trung cao độ của người giải mã kết hợp với tính nghệ sĩ của một người yêu-hiểu nghệ thuật: ngôn ngữ, âm nhạc, hội họa… Việc bình giảng cũng như bóc những lớp của một củ hành, kiên nhẫn – tỉ mỉ – điêu luyện và càng chạm vào lớp lõi bên trong, khả năng khóc của ta càng cao. 

Việc bình giảng những bài thơ do một người trải đời và am hiểu văn hóa viết dĩ nhiên sẽ khác hẳn với những bài bình giảng cơ bản trong trường hay trong những sách nghiên cứu văn học, vì những trạng thái tình cảm trong các bài thơ được diễn giải mượt mà hơn, không kiêng kỵ, không “đao to búa lớn”, không dày đặc thuật ngữ, mà như một người đang chu đáo, cởi mở, thân tình kể chuyện thơ-đời vậy, thậm chí một số bài bình giảng trực tiếp đề cập những chủ đề +18 để thấy được sự rung động, khao khát, chân thật con người trong thơ.

Tập sách bình giảng này đủ sức nâng người đọc từ một người yêu thơ chung chung trước khi đọc trở thành một người yêu thơ được trang bị thông tin, kiến thức cần thiết sau khi đọc xong từng bài viết, để rồi tự mình sẽ cảm nhận bài thơ ấy một cách độc lập hơn. Nếu ai mong muốn tìm hiểu kỹ một số bài thơ Việt, một số bài thơ Trung Hoa, thơ Pháp, thơ Mỹ,.. thơ cổ, thơ hiện đại, thơ sáng tạo… để có vốn kiến thức cơ bản, trao đổi với nhau thì quyển sách này là một đề cử của mình. 

 

Đọc quyển sách bình giảng về thơ này, thật sự tôi thấy như mình vừa được tặng một khóa học rất thú vị về văn chương, văn hóa, lịch sử biểu tượng, để có kiến thức nền củng cố lại một “cái tôi” yêu sự thưởng thức, yêu thơ mà ai trong chúng ta hầu như cũng có sẵn.

Đó là quyển “Một lối đi riêng vào cõi thơ” của tác giả Vĩnh Đào – Tiến sĩ văn học tại trường Sorbonne. 

IMG_5245

Rượu ngon cần người đàm đạo. Thơ hay cần người bình giảng am tường. Quyển sách “Một lối đi riêng vào cõi thơ” đã đem lại cho tôi cảm giác “say”, phiêu, thưởng thức như tôi mong muốn và đợi chờ trước khi mở ra đọc. Việc bình giảng thơ, điều đầu tiên là cần sự tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, cuộc sống cá nhân, nguồn gốc cảm hứng sáng tác của tác giả bài thơ; nhưng thế vẫn chưa đủ, còn cần sự am hiểu về hệ thống biểu tượng văn học-văn hóa của bài thơ ấy nữa.

Cánh hạc bay lên và nỗi nhớ nhà tràn như khói sóng “yên ba giang thượng sử nhân sầu” nổi tiếng của nhà thơ Thôi Hiệu khi đứng từ lầu Hoàng Hạc ngắm cảnh trên bước đường ly hương, hẳn nhiên sẽ khác với cảnh “bóng xế tà” và nỗi nhớ nhà bao la như “trời non nước, một mảnh tình riêng ta với ta” của Bà Huyện Thanh Quan khi đứng ở Đèo Ngang dừng chân trên dặm đường xa nhà, và cũng khác với cánh hạc mang sự ly biệt tình yêu vĩnh viễn như “trời đất từ nay xa cách mãi” trong bài Tống biệt của Tản Đà. Việc giải mã ấy chính là công phu của người bình giảng.

Có 27 bài thơ được chọn để bình giảng trong sách, mỗi bài thơ ẩn chứa những câu chuyện và mảnh ghép số phận của tác giả – và khi đọc bình giảng của Vĩnh Đào, ta cảm nhận rõ ràng hơn bài thơ ấy, thời điểm ấy, số phận ấy, có lúc ly kỳ như bộ tiểu thuyết. Ta có thể đồng ý hay không với lựa chọn 27 bài này, nhưng không thể không đồng ý rằng sự bình giảng của tác giả rất đặc sắc, và nhiều bài trong đó đã trở thành bất tử trong dòng lịch sử văn học nói chung.

Nếu mỗi ngày ta đọc 1 bài bình thơ, thì chưa đến 1 tháng sau, quyển sách đã mở ra cho độc giả một cõi thơ mênh mông nội tâm của các nhà thơ từ Đông sang Tây: từ Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan đến Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Đoàn Phú Tứ, Quang Dũng, Nguyễn Tất Nhiên,… từ Tản Đà mở ra dòng thơ mới đến cho Thôi Hiệu, Thôi Hộ, Vi Thừa Khánh… với dòng thơ Đường kinh điển rồi đến cả Apollinaire tại Pháp, Carl Sandburg tại Hoa Kỳ… Một cõi thơ đa dạng với nhiều không gian, thời đại khác nhau!

Thú vị nữa là quyển sách có sự đối chiếu Đông-Tây, trong đó tác giả Vĩnh Đào nhận định thơ Hồ Xuân Hương táo bạo hơn nhiều khi so với thơ Baudelaire của Pháp trong tập thơ nổi tiếng Les Fleurs du Mal (Những bông hoa tội lỗi), vừa xuất bản vào năm 1857 đã bị truy tố về tội “xâm phạm thuần phong mỹ tục”. Nhưng câu hỏi “Hồ Xuân Hương là ai?” được bình giảng trong sách cho ta thấy câu hỏi này đến giờ vẫn là một bí ẩn của lịch sử văn học Việt Nam mà chưa ai có thêm manh mối nào.

Điều khai mở cơ bản cho đa số độc giả, theo tôi, là định nghĩa về thơ. Thơ là gì? Văn vần có phải là thơ không? Điều gì tạo ra tính thơ cho một văn bản ? Những trích đoạn và diễn giảng để minh họa cho luận đề này trong sách khá cởi mở và thuyết phục.

Thơ thường rất cô đọng và nhiều sức nén ý nghĩa trong ngôn từ. Dường như ta càng diễn giải thì ý thơ trải ra càng dài, ta càng muốn hiểu thơ sao cho đơn giản nhất thì lại càng xa ý chính của bài thơ hơn. Đọc một bài thơ hay có thể so với việc ta mở hộp Pandore trong truyền thuyết: Thế giới nội tâm của ta sẽ bị khuấy động bằng những cảm xúc khó ngờ tới nhất, mạnh như bão lũ và những cuồng phong, và sau đó còn lại có lẽ là chút mầm hy vọng lắng từ những hoang vu của tâm hồn.

Đa số những bài thơ hay đều được viết ra từ những nỗi đau khổ, buồn bã, chiêm nghiệm tột cùng của tác giả. Đôi khi đó là bài thơ đầu tiên, đôi khi đó là bài thơ cuối cùng trong cuộc đời người sáng tác, dẫu thế nào, bài thơ đó trở thành duy nhất và đủ sức nén để tạo ra một tiểu vũ trụ trong một cõi thơ chung.

Ta có thể hình dung ra được chăng : 4 câu ngắn ngủi mà một nhà thơ thời Đường là Vi Thừa Khánh viết trong bài “Nam hành biệt đệ” (từ biệt em trai để đi xuống phía nam), lại chất chứa bao nhiêu tâm tình, uất ức và đau đớn. Những tưởng bài thơ chỉ là lời từ biệt em trai cho một chuyến đi, nhưng khi ta biết bối cảnh của chuyến đi này vốn là bị đi đày, có thể là mãi mãi không thể quay trở về, do Vi Thừa Khánh liên quan đến một vụ án chính trị dưới thời hoàng thái hậu Võ Tắc Thiên, thì ta mới hiểu được hơn về không gian trong bài thơ: mênh mông và thê lương, uất ức như một cánh hoa rơi không thể phát ra thành tiếng.

Đạm đạm Trường Giang thủy

Du du viễn khách tình

Lạc hoa tương dữ hận

Đáo địa nhất vô thanh

(Dịch nghĩa: Nước sông Trường Giang lặng lẽ trôi / Mênh mang như mối tình của người đi xa / Hoa rụng dường như cũng chia nỗi hận / Âm thầm rơi xuống không một tiếng vang).

Trong quyển “Một lối đi riêng vào cõi thơ”, người bình giảng thơ Vĩnh Đào đã đưa thông tin chung về Vi Thừa Khánh và bối cảnh làm bài thơ này, sau đó giới thiệu 4 bản dịch thơ sang tiếng Việt mà vẫn chưa thỏa đáng vì đều dùng thể lục bát trong khi bản gốc là ngũ ngôn (4 câu, 5 từ/câu), và dường như chưa diễn tả hết nỗi lòng u uẩn của Vi Thừa Khánh.

Những lời bình giảng của tác giả Vĩnh Đào rất tha thiết với từng bài thơ, không chỉ bài này, mà đối với tất cả những bài khác: từ bối cảnh chung, cuộc đời/thời điểm sáng tác của nhà thơ, giải mã các biểu tượng trong bài, tìm các bản dịch phù hợp nhất (nếu không phải thơ Việt Nam), cũng như thêm những kiến giải, cách hiểu, kỷ niệm riêng của mình.

Riêng với bài “Nam hành biệt đệ”, tôi như được truyền cảm hứng để tự dịch cho mình một bản riêng, dùng thể ngũ ngôn như bản gốc nhưng độ nén ngôn từ dĩ nhiên cũng không thể chuyển tải hết tâm tình của Vi Thừa Khánh:

Miên man Trường Giang chảy

Mênh mông những thâm tình

Cánh hoa chia nỗi hận

Rơi xuống chạm thinh không.

Và tôi thử dịch theo thể lục bát:

Miên man dòng Trường Giang trôi,

Mênh mông tình lữ khách sôi sóng ngầm.

Cánh hoa chia hận sâu thâm,

Chạm đất không một tiếng trầm… Thinh không!

Có thử dịch mới hiểu thêm công phu của những người đã dịch thơ, từ bài Chinh phụ ngâm cho đến những bài thơ Đường,… Và cả của người bình giảng đã tìm ý nghĩa, bản dịch, cách viết sao cho độc giả hiểu rõ bài thơ từ ý tứ đến sự sâu sắc làm nên tính bất tử cho bài thơ ấy!

Quyển sách này đã đem lại cho tôi nhiều cảm hứng giữa bộn bề cuộc sống. Nhiều trạng thái của nội tâm của ta bỗng như được “vẽ” lại bằng thơ, bằng những cụm từ và ý tứ thật ngắn gọn, súc tích, sâu sắc của những tác giả sống ở không gian, thời đại khác.

Mục lục những bài viết không được xếp theo thứ tự thời gian, mà dường như theo một hành trình từ vô thức đến có ý thức của tác giả Vĩnh Đào. Bắt đầu bằng bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, tựa như xuất phát điểm từ cõi “ta với ta” quen thuộc để dần bước ra các trạng thái khác của nội tâm, của thế giới. Người đọc sách cũng theo lối đi đó của tác giả Vĩnh Đào để dần dần vào cõi thơ và khám phá những cách để giải mã, thưởng thức nhiều bài thơ khác nhau từ Đông sang Tây.

Lần cuối cùng ta đọc thơ là khi nào? Lần cuối cùng ta biết ngâm nga một câu thơ là khi nào? Và ta hiểu thơ, hiểu ý nghĩa ẩn chứa trong bài thơ ấy đến độ sâu nào?

Tự bao giờ, đa số con người hiện đại đã quên mất cõi thơ – nơi mà ta có thể phát triển cả thiên hà của cảm xúc và độ nhạy bén ngôn ngữ.

Tôi rất nể phục tác giả Vĩnh Đào đã yêu thơ và tìm được một lối đi riêng của ông không những cho chính mình mà còn cho những người yêu thơ khác có thể tiếp cận dễ dàng, mỹ cảm với cõi thơ – vốn hợp nhất mọi không gian và thời gian.

Quang Nguyên

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s